Căn cứ Điều 7 Luật Bình đẳng giới 2006 quy định các chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới như sau:
- Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển.
- Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình.
- Áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.
- Khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới.
- Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước.
Có những nguyên tắc cơ bản nào về bình đẳng giới?
Theo quy định tại Điều 6 Luật Bình đẳng giới 2006, trong bình đẳng giới có những nguyên tắc cơ bản như sau:
Thứ nhất: Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Thứ hai: Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.
Thứ ba: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
Thứ tư: Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
Thứ năm: Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.
Thứ sáu: Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.